(Trích Tạp chí
Việt Học, số 1, phát hành 27 tháng 02 năm 2005)
Ở trong nước trước kia, gia đ́nh nào có con gửi ra
học ở nước ngoài, cha mẹ thường có một mối lo âu dai
dẳng. Lo âu v́ những cạm bẫy của đời sống quá dư
thừa, những quyền tự do rộng răi, cảnh sống xa nhà
dễ khiến cho con cái họ sinh ra chơi bời hư hỏng,
không c̣n nghĩ tới con đường trở về quê hương nữa.
Và thế là họ mất con. Sự việc này không nhiều, nhưng
thường xuyên xẩy ra mỗi dịp, nên đă trở thành một
cái lệ.
Tại hải ngoại ngày nay, điển h́nh là Hoa Kỳ, các gia
đ́nh đi tị nạn chính trị, các gia đ́nh vượt biên t́m
tự do đương nhiên đem con cái của họ đi theo. Tuổi
trẻ hải ngọai thường sống với gia đ́nh, cha mẹ và
anh chị em. Những cộng đồng dân tị nạn đă thành từ
lâu, ở khắp nơi. Gia đ́nh đối với tuổi trẻ hải ngọai
trở thành một niềm vui, một nguồn hy vọng, một vọng
gác ngăn ngừa sự đào thoát của những đứa con hư. Do
đó, mối lo âu của cha mẹ vẫn c̣n, nhưng là một thứ
lo âu khác. Lo âu con cái họ không đủ lư trí để giữ
ǵn cái gốc gác của ông cha, không vun đắp cái kiểu
mẫu con người Việt Nam như gia đ́nh hằng mong đợi.
Cũng là một sự mất mát vậy! Làm thế nào để cho sự
mất mát đó khó ḷng xẩy ra? Điều này cốt yếu là vai
tṛ của giáo dục, một nền giáo dục đặc thù, phức tạp
mà ta phải dành cho tuổi trẻ hải ngọai.
Giáo dục tự nó đă là một giá trị. Trong hệ thống các
giá trị của một nền văn hóa dân tộc nào, người ta
cũng đặt giáo dục ở một thứ vị cao trọng. Bởi lẽ
giáo dục là một phương thức cần thiết và hiệu nghiệm
để giảng giải, phát huy, bảo tồn và chấn hưng một
nền văn hóa dân tộc nơi lớp trẻ ở học đường.
Liên hệ với văn hóa như trên, ta có thể nói rơ hơn
về cảnh ngộ của tuổi trẻ hải ngoại, của lớp thanh
thiếu niên nam nữ Việt đă ly hương theo cha mẹ và
gia đ́nh đi tị nạn chính trị và được định cư tại một
quốc gia khác ngoài tổ quốc. Do đó mang ḍng máu
Việt ở trong người, lớp trẻ này đă rời bỏ nền văn
hóa truyền thống của dân tộc mà gia nhập một nền văn
hóa của nước đă dung thân họ, một nền văn hóa khác
và mới mà chính họ cũng như cha mẹ họ vẫn c̣n tỏ ra
bỡ ngỡ. Vấn đề giáo dục tuổi trẻ hải ngọai xoáy mạnh
vào cuộc đổi thay văn hóa này. Biết rằng một số
trường hợp đă gây những đổ vỡ đau thương cho một số
gia đ́nh di cư tị nạn.
1- Trước hết, có vấn đề hội nhập. Lấy Hoa Kỳ làm thí
dụ, nơi có đông đảo người Việt tị nạn. Giáo dục cũng
như văn hóa có cái triết lư riêng bao trùm một xă
hội. Vậy muốn hội nhập cho thành công, người hội
nhập phải am tường cái triết lư đó. Và, như một học
gỉa Âu Châu đă nhận xét: “Để lư hội cho thấu đáo
một học thuyết , điều kiện thứ nhất là phải đi vào
học thuyết đó và điều kiện thứ hai là phải ra khỏi
nó - Pour bien comprendre une doctrine, la première
condition est d’y entrer et la seconde condition est
d’en sortir.” Nói khác đi, lời xác nhận bao hàm
một lời khuyên nhắc nhở đầu óc phê b́nh mà một nền
giáo dục nào cũng nhằm gây dựng nơi học viên. Phải
biết tránh sự mù quáng, sự đam mê, sự bốc đồng. T́nh
yêu đậm đà nhưng cần phải trong sáng.
Hoa Kỳ là một nơi “thiên đàng” về giáo dục các môn
khoa học và kỹ thuật, không chịu đầu quân vào học
hành ở đây là một thiệt tḥi lớn.
Hoa Kỳ là một quốc gia tương đối trẻ, mới lập quốc
được hơn hai trăm năm. Được hỏi về lịch sử triết học
Mỹ, một số học giả ở đây đă ngay thẳng lắc đầu trả
lời : “không có”. Nói rơ hơn là họ không có một công
tŕnh tư duy độc lập, lớn lao về triết học, không có
một triết lư quán thông nào về vũ trụ và nhân sinh.
Những trào lưu cũ, lẻ tẻ thường chỉ là du nhập từ
cựu lục địa Âu Châu . Tuy nhiên, vẫn có một tư trào
nồng cốt khá quan trọng là thuyết thực dụng (pragmatisme)
được dân tộc Mỹ viên măn vào hồi cuối thế kỷ 19 -
đầu thế kỷ 20, đến nay đă được thi triển rộng răi
trên ṭan quốc và gặt hái được nhiều thành công,
khiến người ta có thể gọi Hoa Kỳ là quê hương của
chủ nghĩa thực dụng.
Ta có thể tóm tắt chủ trương thực dụng vào hai giáo
điều cơ bản: thứ nhất, một tư tưởng khoa học, thứ
hai, một nếp sinh họat dân chủ. Hệ luận của nó là:
tự do (liberté), dân chủ (démocratie), cá nhân (individu),
quân b́nh (balance)…Những điều đại cương vừa kể,
trên phương diện tổng quát mang quy tắc tính, đều là
những quy tắc tốt lành không ai phủ nhận. Nhưng rồi
thuyết thực dụng cũng có nhiều điều bất thuận hợp (tiếng
Anh: inadequacies) đưa đến những khủng khoảng xă hội
và những tội phạm - điều mà các lư thuyết gia thực
dụng cũng phải lên án, chẳng hạn J.L.Childs: We
are convicted that pragmatism negates its own basic
principles whenever it takes the form of a
completed, closed system and that it will fail to
enjoy the surport it deserves if it refuses to take
account of demonstrated inadequacies in its own
patterns of thought and education - chúng tôi tin
chắc rằng triết lư thực dụng sẽ phủ nhận ngay chính
những nguyên tắc căn bản của nó mỗi khi nó mang h́nh
thức của một hệ thống đầy đủ và đóng kín và rằng nó
sẽ không c̣n được hưởng sự ủng hộ của người đời mà
nó đă xứng đáng được hưởng, nếu nó khước từ không
đếm xỉa tới những bất thuận hợp nằm ngay trong những
tiêu chuẩn của nó về tư duy và giáo dục.”
Vài thí dụ về những bất thuận hợp vừa nhắc tới: coi
nhẹ giá trị gia đ́nh; coi thường những giá trị học
đường, đề cao quá đáng giá trị của khoa học thực
nghiệm tới mức có người nói tới một thứ chủ nghĩa
khoa học (scientisme); giáo dục là thúc đẩy học viên
trau dồi các khả năng khéo léo của họ và quảng bá
cho chung quanh những kỹ năng đó bằng cách sử dụng
chúng. Điều ghi nhận cuối cùng trên đây cũng là quan
niệm về cái “tri-savoir” của người thực dụng:
“Biết là biết làm, biết cách sử dụng - savoir c’est
savoir faire, savoir s’en servir.” Một cái tri
độc nhất, gạt bỏ những giá trị nhân bản, gạt bỏ vai
tṛ thiết yếu của những khoa học nhân văn (sciences
humaines, morales)! Xác nhận là phê b́nh rồi!
Về đường xă hội, nước Mỹ đang làm một thí nghiệm văn
hóa táo bạo, dài lâu, vô song trên trường quốc tế:
kết nạp rất nhiều sắc dân vào trong quốc dân của
ḿnh để hướng tới một nền đa-văn-hóa (polyculture).
Đây cũng là một thứ tự do ít tính toán, thiếu kế
họach thi hành và kiểm sóat để đưa tới chỗ bị lạm
dụng và thành ra có hại!
2- Sau nữa có vấn đề gây dựng và bảo tồn bản sắc dân
tộc. Bản sắc đó là ǵ? Ta hăy t́m ở những công tŕnh
văn hóa rực rỡ của một nền văn hóa đa dạng của dân
tộc. Đứng đầu các giá trị siêu việt đó là ngôn ngữ
và văn chương bằng tiếng mẹ đẻ. Đây cũng là bằng
chứng của cái thiên tài sáng tạo ngôn ngữ của dân
tộc. Và trải qua hơn một ngàn năm, ngôn ngữ đó đă
giúp sản sinh ra rất nhiều tác phẩm văn chuơng kiệt
tác, đủ thể loại thi ca, tiểu thuyết, sân khấu… Đỉnh
cao của ḍng văn học đó là những ngâm khúc, tiểu
thuyết bằng thơ: Cung oán, Chinh phụ, Hoa tiên, Đọan
trường tân thanh, Bích câu kỳ ngộ hồi hậu bán thế kỷ
18 - đầu thế kỷ 19. Và c̣n nhiều kho tàng văn học
khác. Một niềm vui cao cả cho cả một dân tộc đọc. Vả
chăng, cứ nói là người Việt Nam mà không nói được
tiếng Việt Nam th́ đă là một điều đáng chê trách nếu
không nói là một điều hổ nhục.
Có một ngôn ngữ phong phú là có một phương tiện sắc
bén để tương thông với mọi người Việt Nam, có một
chiếc ch́a khóa hữu hiệu để ta đi vào các môn học
khác của dân Việt Nam. Cũng chẳng cần phải đi đâu
xa. Tài liệu về các môn Việt học bằng tiếng Việt
không thiếu, trái lại c̣n đầy ắp những thư viện của
người Việt ở Mỹ, và cả một phần của nhiều thư viện
người Mỹ.
Điều kiện mở đầu - điều kiện ngôn ngữ - đă hội đủ,
ta có thể kiểm điểm các khía cạnh khác của văn hóa
và giáo dục. Bắt đầu bằng tư duy. Về triết học, ta
thuộc hệ thống Đông phương là triết học suy ngẫm
(philosophie contemplative) ngược lại với triết học
Tây phương là triết học thuần luận (philosophie
spéculative). Những tư trào lớn đóng góp vào tư duy
Việt Nam cho đến nay vẫn c̣n ảnh hưởng và dấu vết là
Khổng giáo, Phật giáo và Lăo giáo, gọi chung là tam
giáo Đông phương. Điều đáng nói hơn nữa là cái tinh
thần tư duy của dân tộc ta: một mặt, ta sẵn sàng mở
cửa cho du nhập những tư trào từ ngoài tới; mặt
khác, ta lại biết đem những tư trào ngoại lai đó
đồng hóa với tư tưởng sẵn có để tránh không cho
ngoại nhân đồng hóa ḿnh mà ngược lại để ḿnh đồng
hóa cái phần du nhập từ ngọai nhân. Kết quả xa hơn
nữa là ta có cái ư chí và nghị lực để chống lại kẻ
xâm lăng nước ta bất luận từ đâu tới, chẳng chóng
th́ chầy.
Về cá tính của dân tộc, xin ghi đôi ba nét căn bản:
- Người Việt Nam có một đời sống nội tâm rất phong
phú với nhăn quan hướng vào bên trong nhiều hơn là
bên ng̣ai. Nói khác đi, đó là thái độ trốn tránh
ngoại giới khắc nghiệt để ẩn náu vào nội tâm êm đềm
xoa dịu.
- Người việt Nam có một bản chất giầu t́nh cảm, xử
sự bằng t́nh trước khi bằng lư. Trong mối quan hệ
giữa người và người nếu đẹp về t́nh th́ quan hệ đó
sẽ phát huy thành nghĩa - thứ bổn phận thiêng liêng
- và măi măi trường tồn.
- Người Việt Nam có đầu óc dung nạp và tổng hợp tài
t́nh, cực kỳ uyển chuyển phá tan cái thế cách biệt
giữa những cực đoan đối nghịch trong vũ trụ và nhân
sinh: âm và dương, thành và bại, sống và chết… Một
bằng chứng đă được kể ra trên kia khi nói về tư duy
của dân tộc vừa mở ra vừa rào lại. Tương tự như thế,
nhiều thái độ và hành xử của người Việt mang luôn
một lúc hai tính chất đối chọi, chẳng hạn: thực tế
đến chi li, trắng trợn đồng thời mơ màng đến đắm say
lăng mạn, gắn bó với hiện tại mà vẫn thiết tha với
quá khứ và hướng vọng tới tương lai.
Nền văn hóa của bất luận một dân tộc nào cũng đều có
cái hay pha trộn với cái dở, cái tốt lẫn với cái
xấu. Nền văn hóa cũ của ta cũng thế, có cái sở
trường và điều sở đoản. Đây cốt yếu là một vấn đề tu
thân và nhận thức cá nhân. Hồi tiền bán thế kỷ trước
- thế kỷ 20 - nhà văn kiêm nhà báo Nguyễn văn Vĩnh
có ghi nhận một số những tật xấu của người Việt
trong cuốn sách có nhan đề là “Xét tật ḿnh”,
chẳng hạn tật xấu ǵ cũng cười, tật xấu chê bai
trước công việc của người khác trước khi công việc
đó khởi sự hay ḥan thành.
3- Tước bỏ cái xấu, giữ lại cái đẹp của mỗi nền văn
hóa Mỹ, Việt như vừa nh́n đại cương trên đây. Đối
chiếu và phê phán kỹ càng hơn nữa hai phần giữ lại,
xem có thể tổng hợp được không, nếu có th́ tổng hợp
tới mức nào và như thế nào: trong nhiều trường hợp
và khía cạnh, sự gắn bó, sự tương liên giữa hai nền
giáo dục khó có. Cái mà người Việt cho là đẹp, người
Mỹ lại coi thường; Cái mà người Mỹ coi là xấu, ngưới
Việt có thể lại coi là tốt. Thí dụ: uy quyền của cha
mẹ đối với con cái trong gia đ́nh cũng như uy quyền
của thầy giáo đối với học sinh trong học đường,
trong khi bên này coi trọng th́ bên kia lại coi
khinh mà dẹp bỏ. Nếu có xung đột giá trị từ hai
phía, thuyết bù trừ hay quân b́nh có thể đem ra để
sử dụng. Chuyện này có thể tùy cơ ứng biến. Riêng
luật pháp của đất dung thân là có tính cách trói
buộc đối với mọi người, người chính quốc cũng như
người tị nạn.
Bên lề một hội nghị giáo dục ở đây, một sinh viên dự
thính có hỏi tôi “giá trị Việt Nam là những giá trị
ǵ?”. Tôi đă trả lời một cách gián tiếp: “ Hăy yêu
người Việt Nam bắt đầu từ cha mẹ, hăy chia sẻ những
vui buồn cùng mọi người, hăy tham gia những sinh
hoạt thiện nguyện với cộng đồng. Về lâu về dài, ta
sẽ hiểu mọi người rơ ràng, ta sẽ khám phá ra những
người những việc mà đa số trong cộng đồng yêu mến,
v́ nể, khâm phục th́ người đó, sự việc kia là những
giá trị Việt Nam.” Chẳng hạn: sự phẫn nộ của công
chúng đối với một người nạt nộ một đứa bé con; cảnh
rơi lệ của đám đông trước sự việc một người xót
thương cúi xuống cứu giúp một người lỡ độ đường…
Vấn đề văn hóa là một vấn đề về giá trị. Giáo dục là
một sự chọn lựa giá trị để quảng bá cho tuổi trẻ.
Trong cái vị thế là tuổi trẻ hải ngoại, hiểu theo
nghĩa là tuổi trẻ tha hương v́ biến động lịch sử,
người Việt phải tu thân, tập luyện nói năng và hành
xử sao cho vừa tuân thủ luật pháp địa phương vừa giữ
được cái gốc gác dân tộc của ḿnh. Hăy giữ măi một
trái tim Việt, một tâm hồn Việt và một phong cách
sống Việt. Đó cũng là một phuơng giáo dục tự thân
vậy!