"Đừng tưởng xuân tàn hoa
rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai".
Măn Giác, một thiền sư mang đầy nghệ sỹ tính đă
để lại trần gian đóa mai vụt nở trước sân mà
ngàn năm vang vọng trong vô cùng vẫn không hề
tan ră, ở đó hương sắc quyện vào hư không tô
thắm khung trời nghệ sỹ, trong ấy c̣n lại những
vần thơ mang mang bao phủ đất trời.
Cả cuộc sống được dựng nên từ lời thơ, thế giới
núp ḿnh trong đóa mai chớm nụ và tính chất nghệ
sỹ đượm nhuần trong hương sắc phảng phất đi vào
cơi tĩnh mịch trong vô cùng. Chỉ có lúc đêm
khuya bặt hết tiếng côn trùng, mọi vật ch́m lặng
trong màn đen cô tịch mờ ảo, chỉ c̣n đóa mai hé
nụ điểm tô cho đêm trường, những rung cảm bỗng
chốc đi vào từng thớ thịt làm ấm lại sinh động
cho tâm thức, cuối cùng những tinh hoa của đất
trời từ từ tuôn chảy dệt nên những vần thơ tiếng
nói trong thời không.
Bóng dáng và dấu vết của chặng đường đó bật tung
ra khỏi ngưỡng cửa của quyền năng, c̣n lại những
biến hóa phù thủy quyện vào đôi tay tung ra
những vần thi kệ mà cho đến bây giờ cành mai của
năm xưa bỗng hiện h́nh làm tươi mát cho đất trời
cho cuộc sống hôm nay.
Con người và thi ca, biên giới của mộng và
thực:
Sự hiện hữu của con người được kể như vô nghĩa
nếu không nhờ thi ca làm đẹp cuộc đời. Con người
vốn là ḍng sinh mện trôi lăn giữa phongng ba
băo tố, thỉnh thoảng dừng lại với những biến
động trá h́nh hạnh phúc mà đúng ra là cửa ngơ
của những nghịch cảnh khác. Hạnh phúc mà chúng
ta đang trực diện nếu có, chỉ là bóng dáng giữa
mộng và thực, ranh giới của nó tựa như đường tơ
kẽ tóc, như nhát kiếm chém phăng vào ḍng nước
đang chảy, biên giới nầy mong manh như chính
thân phận con người.
Thực cũng chỉ là mộng được dệt nên từ có của
thời gian, những khởi động đi qua nhanh như tia
chớp, tạo cho ta tưởng chừng đó là hiện thực, sự
thấp thoáng mờ ảo đó biến thế nhân trở thành đối
tượng chỉ sống với cảm quan phong phú, được dệt
nên và h́nh thành từ cuộc sống vốn tràn ngập phi
thực. Ư tưởng nhận thức được hưng khởi theo
chiều hướng sai sử tác động, không nằm nơi
nguyên ủy của lư lẽ vượt thoát.
Con người sống với niềm kiêu hănh, ôm giữ những
ǵ có được trong đôi tay, yên ḿnh theo nghĩa
thực hữu, quan cảm nếu được xuất hiện trở thành
định lư bất di bất dịch, v́ thế chặng đường đập
vỡ thành tŕ cứng nhắc của tưởng quan lắm lúc
trở nên bất lực.
Biên giới được xem là ngăn cách không tạo cho
con người cảm thông với sự biết và không biết,
giữa say với tỉnh, giữa mộng với thực. Khi nào
ranh giới này bị san bằng tiêu hủy th́ mộng và
thực ấy c̣n lại một khối duy nhất, vượt ra ngoài
những biên kiến, say bới tỉnh như cơn lốc cuốn
hút vào hư vô. Có ai tỉnh hoài mà không say? Có
ai say hoài mà không tỉnh? nhưng, nếu tỉnh theo
nghĩa tỉnh của thực tại th́ điều này cũng chỉ
trá h́nh của say, bởi lẽ hiện thực được dựng nên
từ cảm quan, tưởng chừng chứ không phải là một
thực tại với những tra vấn khám phá, những đặt
lại nếu có, th́ thực tại này trở thành phi thực
ngay. Nếu trở thành phi thực th́ sự có mặt của
con người há không phải đang say hay sao?
Biên giới thi ca nằm ngay trong khoảng đó tạo
cho con người cách thức nh́n sự vật theo những
cảm xúc lạ thường, vượt ra khỏi cuộc đời bên
cạnh lối nh́n thi vị. Với thi nhân, nếu trăng là
trăng th́ trăng không c̣n thơ mộng, huyền ảo nữa
và Lư Bạch đâu có tự ḿnh nhảy xuống sông v́ chỉ
muốn ôm giữ một vầng trăng. Vầng trăng mà họ Lư
muốn có được trong đôi tay bé nhỏ của ḿnh chính
là vầng trăng của mộng và thực. V́ nếu, họ Lư
biết là trăng chiếu rọi bóng ở dưới nước, th́
đâu tự ḿnh t́m lấy cái chết oan uổng. C̣n nếu
bảo rằng trăng là thực th́ ông cũng thừa hiểu
rằng cọi thực ấy chỉ có ở trên nền trời trong
xanh chứ đâu nằm ở dưới nước, nhưng họ Lư đă
thoát ra ngoài tương quan, nên t́m đến vầng
trăng mà không cần biết trăng ấy từ cơi nào.
Chừng đó cũng đủ rồi, tra vấn nhiều th́ trăng
không c̣n thơ mộng nữa.
Nhưng không có nhĩa nh́n trăng và thấy đó là đơn
thuần th́ cuộc sống và thi nhân hóa ra vô vị
sao? Ngôn ngữ thi ca trở thành một thứ quyền
năng biến hóa không lường. Có như thế Hàn Mặc Tử
mới bắt "trăng nằm sóng sơi trên cành liễu"
hay Xuân Diệu mới bắt "gió hôn trên má".
Không phải thi nhân có quyền năng, nhưng sự sáng
tạo để dệt nên thi ca trở thành quyền biến và
đưa tri giác của thi nhân thoát ra ngoài những
sai biệt mà một con người b́nh thường không thể
t́m được. Thi nhân là kẻ cố gắng khám phá những
ǵ đang bị che dấu, khuất lấp trong thực tại. Sự
cố gắng này không có nghĩa phải nặn óc để có
những vần thơ, mà điều này là cách nh́n mới lạ
vốn đă được un đúc sẵn trong thi nhân, có cơ hội
nh́n ngắm đối tượng th́ cảm xúc trào dâng, vui
buồn đối với thi nhân cũng chỉ là sự pha trộn
giữa mộng và thực, khám phá truy t́m những mới
lạ không có nghĩa để từ đó chạy trốn cuộc đời mà
phải sống thực và gần gủi với đời. Trong niềm
hoan lạc hay trong khổ đau ngôn ngữ thi ca đều
có mặt, diễn tả những trạng huống nầy thơ mộng
ngay lúc khổ đau đến độ dư thừa:
"Một chiếc cùm lim chân có Đế"
Ba ṿng xích sắt bước th́ Vương"
(Cao Bá Quát)
Điều quan trọng là phải hoán chuyển những thực
trạng đó trở thành ngôn ngữ mà đối tượng thưởng
thức t́m thấy giá trị siêu việt. thi nhân không
cần phải áp dụng đến nghệ thuật v́ thi nhân vốn
đă là một siêu nghệ thuật rồi, nếu sự chuyển hóa
phải có nghệ thuật th́ sự trào dâng để có thi ca
trở nên đè nén trong nghệ thuật. Thơ được xuất
hiện khi đi qua quá tŕnh cảm nhận và rung cảm,
nếu muốn xử dụng nghệ thuật th́ phải xử dụng
trước khi rung cảm. Một khi rung động xuất hiện,
thi nhân không nỡ chèn ép dù đó là nghệ thuật để
thi vị lời thơ. Nhưng nếu thơ được xuất hiện
trong ngăn ngại th́ hồn thơ trở nên tức tưởi và
ngôn ngữ thi ca không c̣n dệt từ những cảm quan
tuyệt diệu nữa. Nó trở thành công lệ của nghệ
thuật.
Thiền trong thi ca:
Thiền là thực thể của những sinh động, biến hóa
liên tục, gây chấn động tâm thức để từ đó đạt
được giác ngộ. Thiền hướng đến trực ngộ, chứng
nghiệm thực trạng trong những sinh khởi b́nh
thường, không qua lăng kính phân biệt mà phải
nh́n thẳng bằng định lực, không đắm ch́m trong
những lư luận huyền ảo, quán chiếu mọi tương
quan hiện tượng bằng đôi mắt cảm thông không
ngần mé, nhưng hẳn chắc không ǵ ngăn trở nổi.
Trong hầu hết những công án của Thiền đều ẩn
mang cốt cách văn chương thi ca, như một câu nói
lơ lửng, một bài thơ không hiểu nổi. Nhưng,
chính cái lửng lơ ấy tạo cho kẻ đối diện hoang
mang, ray rứt, bí lối trước những suy luận và
cuối cùng bỗng nhiên lăn ḿnh trường tới cửa ngơ
rỗng không.
Thiền bao phủ len lỏi bàng bạc trong thi ca khá
nhiều, nhất là thi nhân một khi muốn hiểu cảm
thông đối tượng, trước hết phải cảm thông chính
ḿnh, và để từ đó bắt nhịp, phơi bày trao gởi
lời thơ. Thơ là một cách hiểu, lối sống với sự
vật trong mọi hoàn cảnh gợi hứng cho thi nhân,
tuy nhiên sự hiểu lắm lúc vẫn c̣n kẹt vào những
so đo phán xét theo bản năng lôi kéo những hiện
vật trở thành sản phẩm đơn thuần lư trí. Chỉ có
sự hiểu biết của siêu nhgiệm, vượt thoát ra
ngoài biên giới mọi tương quan thường nghiệm,
th́ mới có thể đạt tới đích của Thiền là tạo
năng lực thể nhập vào thi ca, không c̣n nhị
nguyên mà là một. Bởi v́ trí huệ h́nh thành là
nhờ phá tan đi chủ thể, khách thể, những lư luận
nếu không tiêu hủy sẽ thành ngăn ngại, như thế
chặng đường t́m đến sự dung ḥa hội nhập biến
thành hố thẳm chôn chặt cuộc đời.
Thiền có công năng linh diệu trong việc hướng
tri thức khi nh́n muôn vật trở nên siêu thực,
nh́n với cách nh́n, lối nh́nh như thị, không
thành kiến mà phải ly khai ra khỏi những đối
lập, phải biến sở hữu của riêng ḿnh thành chung
của vạn hữu - Thi nhân nếu không khơi dậy con
đường cảm xúc, rung động toàn triệt th́ thi ca
không đạt được tận cùng vi diệu và như vậy lời
thơ không trải đạt được tận cùng vi diệu và như
vậy lời thơ không trài hương, ươm mật. Thi nhân
cũng có thể dệt những rung cảm của ḿnh trên lối
về thăng hoa hiện hữu, nhưng cũng có thể biến
ray rứt của ḿnh nhuộm đen tối khổ đay thêm cho
đời. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào bản năng
đang ngự tiềm ở thi nhân.
Chúng ta thử t́m những sắc thái đặc thù trong
một vào công án bằng thi ca của Thiền, như Viên
Chiếu Thiền Sư có lần đáp:
"Gốc tùng trổi gió âm buồng
Mưa qua lối đó vấy bùn nẻo đi".
Ngài diễn tả thực trạng nhưng, trong ấy có một
cái ǵ nhắn gởi bất động như chính cái yên lặng
trổi buồn của cây tùng. Và cũng lần khác ngài
đáp khi được hỏi về "Chân"
"Hoa rừng vướng lệ nữ thần
Gió xao cành trúc tiếng đàn Bá Nha"
Có ai hiểu được tiếng đàn Bá Nga ngoài Tử Kỳ ra?
Cái lơ lửng của Thiền như chính cái lơ lửng của
thi ca vậy. Nếu nh́n nước với con mắt của khoa
học, của lư trí th́ nước được cấu tạo bởi H2O
nhưng, với nhăn quan thi nhân lại thấy nước là
bến đ̣ tiễn biệt, những hẹn ḥ chờ đợi hoang
vắng, cô quạnh trong buồn đau, lững lờ trôi như
ḍng nước v.v... cách nh́n đó xuyên qua thực
thể, chặng đường nầy gần giống với Thiền trong
việc t́m những bí ẩn đằng sau mọi tương quan.
Nhưng, thi nhân hầu hết từ đó khởi lên những
hoài cảm, xót xa, thương tức, dĩ nhiên vẫn hơn
những đối tượng không t́m thấy được lư lẽ này,
v́ c̣n cơ may nh́n lại sư đau thương ấy. Ngược
lại, với Thiều truy cứu về hiện tượng bằng những
cung cách nầy nhưng, vượt lên trên ở điểm Thiền
không phải là thực thể chết cứng lặng thinh, mà
rất linh diệu, tươi sáng, nh́n sự vật trôi qua,
biến hiện, bằng con mắt thờ ơ, lănh đạm không hề
lo sợ mảy may nào.
Ngoài những điều trông thấy như nước chẳng hạn,
nếu sự đơn thuần nước là nước th́ b́nh thường
quá, nhưng mặt trái nuớc vẫn là cái ǵ có thể là
điểm nhớ nhung, hy vọng, tùy theo trạng huống mà
đối tượng đă gặp. Thiền lột trái bộ mặt ấy và
đưa con người nh́n thẳng vào đó, đừng lo sợ vu
vơ và đặt tra vấn ngay nếu, mặt trái là sự hẳn
nhiên th́ tại sao không từ đó để thấy rằng đàng
sau những xô bồ, tan ră có một cái ǵ rất thực,
rất thi vị, mà ngôn ngữ không diễn tả được. Đừng
run rẩy phải đối diện với hùng lực sẵn có trong
mỗi người, dung ḥa được điều này th́ cuộc sống
không c̣n đau khổ triền miên nữa, mà phải bắt
nhịp cảm thông như thi nhân đă thi vị cuộc đời
bằng chất liệu lời thơ, phải vượt ra khỏi trói
buộc, như những Thiền sư đă từng vượt, th́ cuộc
đời không c̣n phù vân mộng ảo nữa, có một cái ǵ
đáng yêu nên thơ trong ấy.
Sự dung ḥa giữa thiền và thi ca trong Măn
Giác:
Măn Giác Thiền Sư (1052-1096) đă tổng hợp dung
ḥa những sắc thái độc đáo của Thiền tác động và
hưng khởi cho thi ca. Trong ấy ta t́m được những
vần thơ theo h́nh thái thi kệ một cách b́nh dị,
thường nhật, thanh thoát, nhưng đă chứa những
nghĩa mầu thầm kín, vén mở chân trời huyền nhiệm
mà thi ca ẩn ḿnh trong đó.
Măn Giác khơi dậy sự vật hiện hữu trước mắt với
lối nh́n đặt nguyên vị trước và sau chính nó đă
nằm, không hẳn phải tách rời ra khỏi tư thế.
Điều quan trọng từ đó thăng hoa và đưa nó trở
nên biểu tượng tối cần để ngắm nh́n. Măn Giác
đặt vấn đề hết sức dung dị, sự tồn tạ, diệt vong
của nó theo quan điểm con người và thi nhân,
cũng như giữa thi nhân với Thiền Sư. Tra vấn của
Măn Giác được xuất hiện đồng lúc với thời điểm
ngự trị của thời gian, nhưng điều này đă mở bày
khi h́nh hài, hương sắc chính nó hiện diện ở
trần thế.
Người nghệ sị thi nhân đến giữa cuộc đời không
nhất thiết phải để lại những vần thơ bất hủ, sự
có mặt của họ chính là vần thơ tô thắm cho những
giá trị mà con người ít t́m thấy. Có làm thơ
cũng chỉ dệt nên những rung động, và sự nói năng
nầy là những tiến vọng lên, sau đó vụt tắt qua
mau, nhưng có ai dám bảo rằng kẻ ấy không gởi
gấm cả một tấm ḷng cho nhân thế? Hồn thơ khi đă
được xuất hiện, nó bàng bạc ăn sâu và thâm nhiễm
vào chính ngay đối tượng. Nếu, sự vật được đôi
mắt thi nhân ghé qua dù không dệt nên thi ca th́
nó vẫn in dấu và tỏa ra những sắc hương thơm,
làm đẹp cuộc đời bằng ngữ ngôn im lặng. Sắc vị
ấy phảng phất bay chập chờn trong hư không, một
lúc nào đó chúng ta thật sự nh́n ngắm giải lục
trắng trên nền trời xanh, hay ánh trăng lung
linh huyền ảo, màu sắc và yên lặng đó cho chúng
ta những rung động mà chính nó đă được un đúc
những cảm nhận của thi nhân từ trước.
"Cổ nhân bất kiến kim thời nguyện
Thời nguyệt năng thường chiếu cổ nhân"
Người xưa không thể trông thấy được vầng trăng
hôm nay, nhưng ánh trăng hôm nay trước đó vốn đă
chiếu rọi người xưa. Để rồi bây giờ hương sắc
người xưa vẫn c̣n đó, ẩn ḿnh trong thăm thẳm
mênh mang. Cổ nhân đă đi qua nhưng ánh trăng c̣n
ở lại để điểm tô và làm đẹp con người. Sự ngự
trị rung động của thi nhân có mănh lực phi
thường, hoán chuyển sự vật theo cách nh́n và tạo
cho con người duyên theo đi vào lối khác tràn
ngập màu sắc âm thanh kỳ ảo.
Măn Giác thiền sư người đă để lại một bài thơ mà
ngàn năm trôi qua giá trị vượt ra ngoài tử sinh.
Âm vang của nó tựa như tiếng th́ thầm được cất
lên từ đỉnh cao chất ngất vang vọng xuống trần
gian. Làm cho con người sực nhớ đến sự tàn phá
hủy diệt của thời gian, nhưng trong đó âm hưởng
vẫn tồn tại trong vô cùng, vượt thoát có không.
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhăn tiền quá
Lăo ṭng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai
Dịch:
Xuân trỗi, trăm hoa rụng
Xuân đến, trăm hoa cười
Trước mặt, việc đi măi
Trên đầu, già đến rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai
(Ngô Tất Tố)
Thời gian là mấu chốt cột chặt, được con người
lập nên và cũng chính từ đó hủy hoại những h́nh
ảnh không chút tiếc thương. Nhưng với Thiền sư
kẻ thoát ra ngoài cơi sống chết thời gian không
c̣n động đến, bốn mùa không duyên theo lấy ǵ mà
lập. Khi tạo cho đời sự dung ḥa, Thiền sư y cứ
nơi đó hé mở cho thế nhân đàng sau những chồng
chất tàn phá ấy c̣n lại một cái ǵ rất là thơ,
rất là thực. Hoa tàn rơi rụng để rồi ch́m lặng
ẩn ḿnh trong hư vô, tạo nên kiếp lang thang
trước ngưỡng cửa chờ đợi tiếp nối. Nhưng, đó là
sự chuyển ḿnh để sinh thức tồn tại ở môi giới
khác. Với nhăn quan của Thiền sư nó đă bị chiếu
vào tận cùng nguyên thể mà chính nó đă đi qua,
đây cũng là phương cách huân trưởng cho sự vươn
lên một lối và cách tồn tại khác. Sự hiển lộ nầy
vẫn trá h́nh len lơi chứ không hẳn kết thúc một
đời. Hoa tan biến theo bản năng thông thường
được dựng nên theo những nguyên lư thành, trụ,
hoại, diệt. Nhưng đêm qua sân trước một cành mai
nở rộ măi măi tồn tại trong vô cùng, không ai có
thể tàn hủy mà chính nó đă hiện hữu trong vượt
thoát. Cành mai Măn Giác thi sỹ trông thấy,
không được dựng lên từ thời gian, nó đă xuất
hiện tồn tại ngay trong mọi sinh diệt của cuộc
đời. Bóng dáng của nó không nằm ở đâu trong hay
ngoài nhưng tất cả chính là sự có mặt phi thường
của nó.
Tính chất nghệ sĩ trong con người Măn Giác:
Măn Giác được mệnh xưng là con người nghệ sỹ,
nhưng vượt lên trên tất cả những ǵ được gọi là
nghệ sỹ. Nghệ sỹ ở đây được hiểu theo nghĩa
những rung động, những cảm hứng vụt khởi, để rồi
c̣n chỉ lại lời thơ, một chút ǵ đẹp thấp thoáng
ẩn hiện trong vô cùng. Và nghệ sỹ ở đay theo
nghĩa lăng quên, làm tất cả nhưng không hề nhớ
ḿnh đă làm cái ǵ cũng như không có cái ǵ để
làm cả, không một vật nào có thể trói buộc ngăn
ngại được. Nếu có nhớ th́ sự nhớ ấy chỉ là cách
để quên và đôi khi sự nhớ nầy trở thành vô niệm
trong đó. Vượt lên trên những phê phán ngộ ngận,
đạp tung những ǵ được gọi là định thước. Những
thứ ấy không cần thiết và không làm trở ngại
nhất là con người nghệ sỹ giải thoát.
Măn Giác đă đẩy lui thời gian ra khỏi ngưỡng cửa
chờ mong, phóng ḿnh tới đích phi thời gian. Đêm
trước sân cười một nhánh mai đă chấn động cả đất
trời, như tiếnng vang đinh tai nhức óc làm con
người chơi vơi giữa khoảng tử sinh.
Con người đo lường cuộc sống và sự sống bằng
thời gian, chờ đợi để được trả lời những nghi
vấn, thực ra nó h́nh thành cũng do chúng ta muốn
kiểm chứng đo lường, để rồi sau đó chính nó gây
nên những tác động, làm con người trở nên lệ
thuộc và đau khổ khi bị đào thảo tàn phá, như
Xuân Diệu chẳng hạn, xuân vừa đến bỗng sợ xuân
mất. Dù rằng Xuân Diệu đă thấy được sự vô thường
trong đó.
"Xuân đang đến nghĩa là Xuân đang qua
Xuân c̣n non nghĩa là Xuân sẽ già
Mà Xuân hết th́ đời tôi cũng mất!"
Trái với Măn Giác bỏ đi thời gian, quên đi mọi
vật, chỉ c̣n cành mai đang phôi sắc tồn tại măi
nơi tâm thức, không c̣n ǵ có thể chi phối được
nữa. Bản thể khi đă thấu rơ, đâu c̣n băn khoăn
lo lắng, thương đau, ngược lại có thái độ b́nh
tĩnh, tự tại, an nhiên trước những đổi thay biến
hiện. Con người nếu đạt được điều này có thể vẫy
tay chào tạm biệt thời gian không một luyến tiếc
như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với mấy vần thơ:
"Người đời ai cảm? Ta không biết
Ta cảm thương ai viết mấy lời
Thôi th́: Cùng thu tạm biệt
Thu hăy tạm lui
Chỉ để khách đa t́nh đa cảm
Một ḿnh thay cảm những ai ai?
Tính chất nghệ sỹ ấy nếu được khơi mở đúng mức
th́ cuộc đời là một cuộc thơ, thăng hoa trên lối
về, làm nở những đóa hoa trong vô cùng mà h́nh
ảnh của nó tô thắm khung trời mơ. Măn Giác đă ư
thức một cách thân thiết trọn vẹn về con người,
những tương quan hiện hữu nếu không được buông
bỏ ra khỏi cuộc đời th́ trở thành gánh nặng cho
ḿnh. Chỉ có tính chất nghệ sỹ mới dám đạp tung
ra khỏi đôi vai và tâm tư chính ḿnh. Nếu, áp
dụng Thiền trong sự pha trộn th́ nghệ sỹ này
rong chơi dạo khắp nẻo luân hồi hỗn độn mà không
hề bị hề hấn chùng bước. Đi vào cuộc đời tựa như
đến khu vườn với trăm ngàn hương thơm cỏ lạ đang
chờ đón. Nếu trong ấy có những đóa hoa nào tàn
rơi rụng th́ với nghệ sỹ tính không khởi lên mối
thương đau, v́ đó là cách biến dạng để đến môi
sinh khác. Và nếu có thương đau th́ sự thương
đau ấy chỉ là rung động để từ đó dệt nên lời
thơ, chắc hẳn sau đó bỗng như gió thoảng mây
bay, c̣n lại chút ǵ nghệ sỹ truyền cho nhân
thế. Đôi lúc thi nhân không cần đến sự thưởng
thức của kẻ khác, bởi lẽ mấy ai rung động trọng
vẹn như thi nhân đă từng rung động, và nếu có,
chắc ǵ hiểu được ư thơ. Với nghệ sỹ thơ nếu
được trào dâng th́ điều ấy có nghĩa là thông lệ,
không nhất thiết để người thưởng ngoạn mà không
bắt đúng nhịp.
Một bài thơ được kể như hay nhất là bài thơ
không bao giờ được viết nên lời.
Tại sao Măn Giác để lại cho đời bài thơ:
Đối tượng của thi ca là sự vật sinh động trong
im lặng nhiều nhất, chính sự vô ngôn nầy tạo cho
thi nhân những tiếng nói trở thành tiếng nói dùm
cho đối tượng, theo nghĩa diễn tả những rung
động bắt nguồn từ đối tượng.
Sự rung động tuyệt diệu chỉ xuất hiện một lần
độc nhất trong một cuộc đời, ngoài ra nếu có
rung động th́ sự rung động ấy được hiểu theo
nghĩa rung động để trào dâng nguồn thơ chứ không
phải điều đắc ư nhất của thi nhân. Cuộc đời thi
sỹ chỉ để lại một bài thơ đắc ư của ḿnh được
h́nh thành trong một lần tung ḿnh tới đích cảm
xúc trào dâng. Truy t́m bài thơ tuyệt tác của
thi nhân độc giả phải có những giây phút tiếp
nhận những khởi cảm mà thi nhân đă từng rung
động, th́ mới có thể nhận được những ǵ thi nhân
đă trao gởi trong đó. Và kẻ thưởng ngoạn nếu
không đạt tới chiều sâu vi diệt, chính là mức độ
thưởng ngoạn của ḿnh bị giới hạn trước những
dệt nên của thi nhân. Quả tim con người duy nhất
một lần rung động tuyệt hảo, lúc người ấy tiếp
nhận một cách trọn vẹn sâu xa, ngoài ra nếu có
chỉ là dư hưởng c̣n lại.
Măn Giác Thiền Sư thoáng gặp lần vụt ḿnh trên
những chấn động một cách toàn triệt đó là giao
điểm thời gian giữa đông và xuân, ở đó t́m về
quá khứ của đông sự vật và con người co ḿnh
trước những giá buốt, tâm hồn trơ trọi run rẩy
như những thân cây phủ tuyết đứng bất động ngoài
đường. Ư thức trở nên băng giá khô cứng do thời
gian tạo nên. Nhưng với Măn Giác mùa đông ấy là
chất liệu đang được huân trưởng trong ngài. Sự
lạnh lùng băng tuyết là thực thể đang dội mạnh
vào tâm tư của ḿnh, như ḍng nước từ cao điểm
đổ xuống tung tóe lên những bông hoa. Mùa đông
ấp nụ để chờ cơn gió xuân thổi qua, nụ hoa bổng
nhiên bùng lên trong khí trời ấm áp. Nếu không
có giao điểm đông tàn th́ sự xuất hiện của mùa
Xuân không làm cho cuộc đời trở nên đẹp, sỡ dĩ
mùa xuân của hy vọng của muôn hoa, v́ nhờ những
tàn phá của Đông trước đó làm cho con người có
ước vọng t́m đến mùa Xuân, để vơi đi những bẽ
bàng run rẩy trong cô liêu.
Nhưng mấy ai thực sự hưởng trọn một mùa Xuân
đúng với ư nghĩa của nó nhất. Nếu Xuân đến để
rồi ra đi mang theo những đóa mai tàn rơi rụng,
th́ thà nàng Xuân không đến hay hơn. Nhưng rồi
Xuân đến và ra đi như chính thân phận tan hợp,
con người c̣n lại những nuối tiếc hoang mang,
thương đau, hoài vọng, những dư hưởng vẫn c̣n
phản phất đâu đay để nhớ dâng chồng chất, để
nuối tiếc cho một đời.
Với Măn Giác mùa xuân không c̣n nằm nơi kheo
cửa, không phải chờ đợi chúa Xuân ngự đến, mà
bất chợt khi đóa mai vụt nở trước thềm cả sự cảm
xúc tuyệt hảo phi thường xuất hiện trong chớp
nhoáng, để rồi dệt nên bài thơ trao lại cho đời,
một đóa mai không tàn phai theo năm tháng.
Duy nhất và chỉ một lần đắc ư mà trong cuộc đời
Măn Giác đă t́m được, nếu không phải là lần cùng
cực rung động, hẳn đă không có những vần thơ bất
hủ như thế. Sự giác ngộ được kể như gơ thẳng vào
tâm điểm để đạt đến sự thể nhập tuyệt cùng. Sự
rung động cũng là cách cần phải thể nghiệm trọn
vẹn mới có thể t́m hiểu được những ǵ mà đàng
sau đó đang ẩn chứa. Và biết đâu chính những
nguyên lư đó đưa đến giác ngộ?
Thiền sư là những con người có được sự bén nhạy
nhanh và năng cảm nhất, v́ khám phá uyên nguyên
sự vật trước hết, trên hế phải chuyển ḿnh trở
thành sự vật đang hiện hữu, không thể đứng ngoài
sự vật mà t́m thấy những thầm kín trong ấy, muốn
t́m ra gốc rễ phải sống và thở như chính nó đă
sống. Nếu không có những điều nầy th́ làm sao có
thể thành tựu trong việc truy lùng uyên nguyên
vật thể.
Thiền sư là những kẻ đang thở và sống trong tất
cả mọi hiện tượng và sự vật, hoán chuyển để trở
thành nguồn sống nuôi dưỡng cho nhữgn trổi dậy,
vượt thaót ra ngoài tương quan hiện thực.
Đoá mai không tàn phai khi mai chính là chất
liệu được ngự trị, và Mai đă được nở một lần thể
nhập vào vô cùng, th́ cuộc đời lúc nào không có
đóa Mai, không có mùa Xuân? Ư của Xuân và hương
sắc quyện vào hư vô chỉ tan loăng nhưng không hề
nhạt phai trong trời đất. Phải có cái nh́n như
thật vượt thoát th́ mớ có thể trông thấy được
những ǵ mà kẻ khác không trông thấy. Cái nh́n
đó phải là cái nh́n của thi sỹ của Thiền sư của
nghệ sỹ th́ sự vật mới lộ nguyên h́nh.
"Nếu không là nghệ sỹ th́ không là thiền sư
Nếu không là Thiền sư th́ không là thi sỹ"
Nhưng tất cả cuối cùng rồi chỉ c̣n trên đường về
của im lặng, những lời thơ không bao giờ được
cất lên nhưng ở đó một khung trời huyền nhiệm
đang ngự tác. Măn Giác để lại một bài thơ hay
nhất. Và rồi sau đó tất cả đang mờ dần, kể cả
những lần chấn động kế tiếp, nhưng không c̣n làm
cho cảm tác dâng cao độ. Một khi nó đă ở từ đỉnh
cao th́ chặng đường sau không phải chỉ là cách
gượng ép hay sao? Đúng ra không c̣n hứng thú
nữa?
Lời thơ ấy cho đến bây giờ vẫn c̣n vang vọng và
vang vọng cho đến khi nào bặt hết mọi ngôn từ,
lúc ấy nó mới trở về từ nơi mà nó đă xuất hiện.
Im lặng.
Như Hùng