Phật Sự
Tâm Huy
Hầu hết mọi người Phật tử Việt Nam đều không những có nghe biết mà c̣n thường xuyên sử dụng từ ngữ “Phật sự” Nhưng chính v́ được nghe biết và sử dụng quá thông thường, cho nên, đôi khi chúng ta lại không có cơ hội để suy nghiệm về ư nghĩa thâm diệu của nó để ứng xử một cách kiến hiệu trong đời sống thường nhật. Cũng v́ lư do này đă dẫn đến việc đánh mất tinh thần cốt tủy trong các Phật sự mà chúng ta đă, đang và sẽ thực hiện.
Vậy Phật sự là ǵ? Có lẽ không ít người trong chúng ta cho rằng đây là câu hỏi dư thừa. Vấn đề sơ đẳng như vậy mà c̣n phải hỏi hay sao? Đúng vậy, hiểu biết từ ngữ “Phật sự” một cách từ chương th́ quả thật không khó. Nhưng làm được điều sau đây mới là khó: Bằng trạng thái tâm thức b́nh lặng, nghiêm túc suy nghiệm lại ư nghĩa uyên áo của việc làm “Phật sự” để hướng mọi hành tác của đời ḿnh đến mục tiêu tối thượng.
Phật sự tức là “việc Phật” Trên b́nh diện tự giác, việc Phật tức là việc giác ngộ vô minh và giải thoát phiền năo. Như vậy, làm Phật sự tức là thực hiện sự giác ngộ và giải thoát cho tự thân. Trên b́nh diện giác tha, việc Phật tức là việc mà đức Phật làm, đó là việc giáo hóa chúng sinh bỏ ác, làm lành, trong sạch tâm ư. Như thế, làm Phật sự tức là giáo hóa quần sinh để cho họ bỏ ác, làm lành, trong sạch tâm ư và đạt đến giác ngộ giải thoát. Trên b́nh diện giác ngộ viên măn, việc Phật tức là công việc ấy tự nó là công việc viên măn, là công việc khế hợp với lư tánh trung đạo không thiên chấp, là công việc mang bản chất của trí tuệ giác ngộ đốn phá vô minh và tâm đại từ bi cứu khổ độ sinh không phân biệt chủng loại, thân sơ, giai cấp. Do ư nghĩa này, làm Phật sự tức là học và thực hiện việc chuyển hóa mọi hành tác của thân, miệng và ư, mọi công việc của ḿnh và người để làm sao cho mọi công việc ấy đều được viên măn, đều được xa ĺa những cố chấp, thiên chấp sai lầm, cục bộ, đều được thắp sáng lên bởi trí tuệ giác ngộ và ḷng đại bi không biên giới.
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phương Tiện, đức Phật dạy rằng:
“Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng.
Phật tử hành đạo dĩ,
Lai thế đắc tác Phật.”
“Các pháp từ xưa nay,
Tướng thường tự vắng lặng.
Phật tử thực nghiệm đạo này rồi,
Tương lai sẽ được làm Phật.”
Tướng vắng lặng của các pháp chính là không tánh. Khi dạy điều này, đức Phật muốn khai thị cho chúng hội rằng, bản thể hay nguồn cội của chúng sinh vốn là vắng lặng, không phải ngập tràn vô minh và các phiền năo như hôm nay. Chỉ v́ chúng sinh chưa có thể vén màn vô minh, rửa sạch phiền năo trâàn cấu cho nên vẫn không nhận diện ra được bản chất thật của chính ḿnh. Nếu nỗ lực tu tập các thiện pháp, thường xuyên quán chiếu các pháp bằng trí tuệ thâm sâu th́ chúng sinh sẽ có ngày tỏ ngộ.
Nhưng chứng ngộ thật sự được đạo lư này để sống trọn vẹn trong đó th́ hàng phàm phu với dẫy đầy vô minh và phiền năo rất khó thực hiện. Phàm phu từ bản chất tâm thức đến cấu trúc thể xác đều là sản phẩm của vô minh và phiền năo. Khởi tâm, phát ngôn, hành động đều là động thái bắt nguồn hoặc bị chi phối từ vô minh và phiền năo. Bởi vậy, ngay trong chính những việc thiện mà phàm phu làm cũng không thoát khỏi sự trói buộc của vô minh: làm với cái tâm phân biệt chủ khách nhân ngă, phân biệt thân sơ, phân biệt phước báo quả vị, được khen th́ vui mừng hớn hở, bị phê b́nh chê trách th́ phiền năo sân si, thấy người làm việc thiện tốt hơn, thành tựu hơn, được người đời tán dương hơn th́ đố kỵ rồi sanh tâm phá hoại, thấy người làm việc thiện gặp nhiều chướng duyên thất bại th́ hoặc là mừng thầm, hoặc là không phát khởi một chút thiện tâm thương xót, nh́n người th́ chỉ thấy toàn là khía cạnh xấu của họ mà không bao giờ biết rằng chính ḿnh cũng không khá hơn, v.v..
Trong tất cả những thuộc tính của vô minh và phiền năo th́ “chấp ngă” đứng đầu. Nh́n các pháp mà không quán thấy được rằng nó chỉ là một tập hợp giả tạm của các duyên, nó không có tự tính, nó là không, nó vốn vắng lặng th́ đó chính là trạng thái chấp ngă, là sự thừa nhận các pháp thật hữu. Bằng vào cái tâm hữu ngă ấy mà tư duy, nói và hành động th́ chỉ dẫn đến chỗ kết nghiệp để lẩn quẩn trong ba cơi sáu đường.
Chính v́ vậy mà trong Kinh Hoa Nghiêm đức Phật đă ân cần chỉ giáo:
“Vong thất bồ đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp.”
Thực hiện các điều lành mà quên mất tâm bồ đề th́ không khác ǵ là hành tác của ma.
Ma nghiệp chính là hành tác bị chi phối bởi vô minh. Tâm bồ đề là tâm Phật, tâm giác ngộ, là trí tuệ giác ngộ quán chiếu các pháp vốn vắng lặng, không có tự tính, không có thật ngă, là tâm trên cầu làm Phật, dưới cứu khổ quần sinh. Thật ra từ tâm chúng sinh đến tâm Phật vốn không có biên tế. V́ bản thể vắng lặng của các pháp th́ không có tên gọi, không Phật cũng không chúng sinh. Mê vô minh chấp ngă chấp pháp th́ là chúng sinh. Giác ngộ chân tánh siêu việt có không th́ là Phật.
Cho nên, làm Phật sự th́ đừng bao giờ quên mất tâm bồ đề dù là trong bất cứ hoàn cảnh nào, bởi v́ quên mất tâm bồ đề th́ đó không c̣n là Phật sự nữa.
Nếu đem tâm chúng sinh làm Phật sự th́ chỉ là xây dựng thêm thành tŕ kiên cố của vô minh phiền năo, chỉ là tạo thêm nghiệp chướng để tự trói buộc ḿnh, rồi sẽ không tránh khỏi phải thọ nhận quả khổ. Ngay trong chính sự phát tâm bồ đề cũng c̣n nhiều sắc thái sai biệt khác nhau, nếu không có trí tuệ tuyển trạch th́ không tránh bị sai lạc. V́ vậy, trong bài văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, ngài Thật Hiền đă nhắc nhở:
“Biết tám sắc thái khác nhau trên đây là biết cứu xét, biết cứu xét th́ biết lấy bỏ, biết lấy bỏ là có thể phát tâm. Cứu xét như thế nào? Là coi cái tâm của ta phát ra, trong tám sắc thái trên đây, nó là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy bỏ như thế nào? Là bỏ tà, ngụy, tiểu, thiên, lấy chánh, chân, đại, viên. Phát tâm như vậy mới được gọi là chân chánh phát bồ đề tâm.” (Phát Bồ Đề Tâm, Thích Trí Quang dịch).
Người làm Phật sự là hưng phát một thệ nguyện vĩ đại quyết tâm thành tựu quả vị giác ngộ tối thượng như đức Phật. Cho nên, lấy Phật sự để chuyển hóa ḿnh và người, để thắp sáng hạnh nguyện siêu việt của chư Phật, để làm biểu tượng đặc thù cho nền đạo lư giải thoát và giác ngộ giữa nhân gian tăm tối. Trong cuốn Người Xuất Gia, Ḥa Thượng Thích Trí Quang đă viết:
“Người Xuất gia hướng dẫn tín đồ, không phải đem con người của ḿnh ra hướng dẫn mà là hướng dẫn bằng tư cách xuất gia của ḿnh. Sự sinh hoạt chính là một trong tư cách đó. Tư cách đó có hợp chánh pháp mới hoàn thành nhiệm vụ 'hóa tha' được.”
Cụm từ “con người của ḿnh” mà Ḥa Thượng Thích Trí Quang dùng là nói đến bản chất phàm phu vô minh phiền năo chưa tu tập để tẩy trừ, là cái chấp ngă tồn tại. C̣n cụm từ “tư cách xuất gia” là chỉ cho phẩm chất đạo đức giác ngộ và giải thoát mà người xuất gia thực hành để có được. Trong ư nghĩa đó, đem bản chất phàm phu vô minh phiền năo để làm Phật sự th́ không hợp với chánh pháp. Ngay trong sinh hoạt thường nghiệm cũng vậy, người con Phật phải thể hiện ư thức tự giác và giác tha trong mỗi giây phút, trong mỗi sự việc. Nếu không như vậy th́ dù cho có làm bao nhiêu điều mà ḿnh tự gọi là “Phật sự” cũng không đem lại lợi lạc ǵ cho sự nghiệp giải thoát khổ đau của ḿnh và người.
Đạo Phật có mặt, các tổ chức Phật Giáo ra đời là để vận dụng phương tiện trong mục đích mang lại sự giác ngộ và giải thoát cho ḿnh và tha nhân. Chính v́ vậy mà những việc làm giá trị ưu việt ấy mới được mệnh danh là “Phật sự” Là người con Phật, nếu muốn đền đáp công ơn giáo hóa sâu dày của Ngài th́ xin hăy làm cho ư nghĩa của “Phật sự” thêm bừng sáng, thêm hiệu năng, thêm cao quư, thêm mầu nhiệm, xin đừng biến “Phật sự” thành “thế gian sự”, thành “chúng sinh sự”