Nh́n tổng quát công tŕnh nghiên tầm,
khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác
phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc,
Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát
là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ
siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy,
lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít
người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả
văn học đồ sộ và chuẩn xác trên ḍng sử mệnh quê hương.
Là đóa hoa ưu tú, tinh ba của dân tộc, là bậc kiệt xuất
anh tài của Phật Giáo Việt Nam, sử gia Lê Mạnh Thát đă
khai quật những nguồn tài liệu vô cùng quư giá mà suốt
một ḍng thời gian hơn 2000 năm qua bị tản thất, vùi dập
trong sự lăng quên. Thầy đă khám phá những chứng tích
lịch sử mà từ trước đến nay chưa được thấy trên diễn đàn
văn học nước nhà. Từ đó Thầy đă cống hiến những tác phẩm
dày công sưu khảo, đầy giá trị sử học vào kho tàng Văn
Hóa Phật Giáo Việt Nam ngày thêm phong phú và đa dạng.
Chúng tôi kính giới thiệu đến quư vị một số tác phẩm như
sau:
1. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam - 3 tập.
2. Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam - 3 tập.
3. Toàn Tập Minh Châu Hương Hải.
4. Toàn Tập Trần Thái Tông.
5. Toàn Tập Trần Nhân Tông.
6. Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài.
7. Nghiên Cứu Về Mâu Tử - 2 tập.
8. Chân Đạo Chánh Thống.
9. Lịch Sử Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam.
10. Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam - 2 tập.
11. The Philosophy of Vasubandhu.
12. Ngữ Pháp Tiếng Phạn
Từ những tác phẩm trên, và qua lời tựa của tác phẩm Tổng
Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, đă tạo nên những cảm xúc
thâm trầm cho thấy Phật Giáo Việt Nam và dân tộc Việt
Nam đă ḥa quyện với nhau kể từ khi Phật Giáo được
truyền vào quê hương Việt Nam cho đến ngày hôm nay. Suốt
một ḍng lịch sử hơn 2000 năm qua, Phật Giáo đă ḥa ḿnh
theo vận nước, đă thăng trầm theo thời cuộc. Chưa có một
thời gian nào, một triều đại nào mà Phật Giáo tách khỏi
dân tộc, không cùng chung vai gánh vác sơn hà xă tắc qua
những cơn nguy biến.
Trong chiều dài lịch sử đó, Chư vị Thiền Sư, quư Phật tử
đă thực sự đem tài ba lỗi lạc của ḿnh, đem trí năo tâm
linh để tài bồi xây dựng cho kho tàng văn hóa nước nhà
có được những tư liệu đồ sộ, giá trị quư báu.
Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, công tŕnh khảo cứu vẫn
chưa hoàn tất trong nguồn tư liệu có được. Chúng ta phải
dày công nghiên cứu và đóng góp nhiều hơn nữa để khai
triển và hệ thống hóa một cách nghiêm túc trên nền tảng
các chứng tích, tư liệu đó. Chúng ta cần gia công bảo
tŕ và phát triển nền văn hóa dân tộc ngày thêm lớn mạnh,
nhằm góp phần xây dựng đời sống văn minh tiến bộ và
thánh thiện cho con người hôm nay và mai sau.
Qua lời đầu sách đă cho chúng ta một ư thức rằng kho
tàng tri thức của các Thiền sư và Phật tử c̣n tàng trữ
quá nhiều ở các ngôi cổ tự, đại ṭng lâm. Dưới những mái
chùa mà thời gian đă hóa thành rêu phong phủ kín đă lưu
xuất những bông hoa trí tuệ để cống hiến cho nền Văn hóa
đặc thù của dân tộc quê hương.
Nội dung của Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển I
khảo cứu về Mâu Tử Lư Hoặc Luận và Khương Tăng Hội.
Lời dẫn về Lư Hoặc Luận:
“... Trong cuộc đấu tranh và phát triển đầy cam go
gian khổ, nhưng cũng đầy hào hùng hoành tráng của dân
tộc, mỗi khi lịch sử bước vào những giây phút thử thách
gay gắt quyết liệt, sống mái với kẻ thù, những khuôn mặt
anh tài luôn luôn xuất hiện đứng ra gánh vác trách nhiệm,
góp sức đưa con thuyền dân tộc đến bến vinh quang. Vào
cuối thế kỷ thứ II, sau dương lịch, dân tộc ta đang đối
đầu với viễn ảnh có thể bị đồng hóa vào nền văn hóa
Trung Quốc, th́ một khuôn mặt anh tài đă ra đời, đó là
Mâu Tử cùng tác phẩm Lư Hoặc Luận nổi tiếng của ông.”
Qua phần II, tác giả tŕnh bày về Khương Tăng Hội - Cuộc
Đời và Sự Nghiệp:
“... Kể từ ngày Trần Văn Giáp giới thiệu Khương Tăng
Hội như một trong những nhà truyền giáo đầu tiên của đạo
Phật ở nước ta, những người viết sử về sau đă tiếp tục
đánh giá vị trí, vai tṛ cũng như những đóng góp của
Khương Tăng Hội đối với lịch sử dân tộc Việt, không hơn
không kém là một nhà truyền giáo đầu tiên. Việc giới
thiệu sai lầm này dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, mà
một trong những số đó là việc nghiên cứu Khương Tăng Hội
đă không được tiến hành nghiêm túc để khám phá những
đóng góp của Khương Tăng Hội không những đối với lĩnh
vực lịch sử Phật Giáo Việt Nam, mà c̣n với nhiều lănh
vực khác nữa, đặc biệt là lĩnh vực lịch sử với truyền
thuyết trăm trứng và lịch sử ngôn ngữ tư tưởng và văn
học Việt Nam. Ngày nay, với những thành quả nghiên cứu
có được, chúng ta có thể khẳng định Khương Tăng Hội
không phải một nhà truyền giáo đầu tiên của Phật Giáo ở
Việt Nam, mà là một thành tựu đầu tiên của nền Phật Giáo
ấy, để cùng với Mâu Tử h́nh thành một mặt trận văn hóa
phản công lại những trận tiến công như vũ băo của nền
văn hóa nô dịch Trung Quốc đang xảy ra vào thời đó, và
khẳng định sức sống ưu việt của nền văn hóa Việt Nam và
Phật Giáo Việt Nam.”
Mỗi khi đề cập đến Khương Tăng Hội th́ chúng ta không
thể không nói đến Lục Độ Tập Kinh. Đây là tác phẩm nổi
tiếng của Ngài. Qua công tŕnh sưu khảo và nghiên cứu
Lục Độ Tập Kinh. Thầy viết:
“... Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành văn thời
Hùng Vương c̣n để lại cho đến nay qua một bài Việt Ca
duy nhất c̣n đang bàn căi th́ lịch sử văn học và văn hóa
Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lư Nam Đế có thể
được nghiên cứu qua một loạt những tác giả lớn như Mâu
Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp Minh và Lư
Miễu, trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng Hội với Lục
Độ Tập Kinh.
Lục Độ Tập Kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất ghi lại
t́nh tiết 100 trứng của truyền thuyết khởi nguyên dân
tộc tính. Lục Độ Tập Kinh cũng là tác phẩm đầu tiên và
xưa nhất ngoài bài Việt Ca, c̣n bảo lưu được một số trên
15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng
Việt và cung cấp một số lượng đáng kể các tá âm cho việc
nghiên cứu tiếng Việt cổ và phục chế lại diện mạo tiếng
nói ấy cách đây 2000 năm. Lục Độ Tập Kinh c̣n là nơi tập
đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân
nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v... làm cột
sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn
hóa Việt Nam. Lục Độ Tập Kinh c̣n là văn bản thiết định
những chủ đề tư tưởng lớn của Phật Giáo Việt Nam, làm
tiền đề cho những phát triển tư duy Phật Giáo Việt Nam,
mà thành quả đầu tiên phát hiện cho đến nay là sáu lá
thư trao đổi giữa Lư Miễu, Đạo Cao và Pháp Minh vào
khoảng những năm 450.
Lục Độ Tập Kinh v́ thế là một tác phẩm văn học lớn không
chỉ của lịch sử Phật Giáo Việt Nam mà c̣n là lịch sử văn
học tư tưởng và văn hóa dân tộc.”
Để thấy rơ hơn về nội dung tư tưởng Lục Độ Tập Kinh, đủ
nguồn cảm hứng và khả năng truyền tải giá trị cao thượng,
xây dựng đời sống dân sinh thăng hoa trên giai tầng tâm
linh mà c̣n là bản kinh ḷng, lời kinh ruột của Bồ Tát
đạo, Bồ Tát hạnh và Bồ Tát nguyện:
“... Lục Độ Tập Kinh như nhan đề chỉ ra, là một tập
kinh tŕnh bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ Tát, tức bố thí,
tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Lư
tưởng Bồ Tát trong thời kỳ đầu của Phật Giáo ở nước ta,
do thế, đă được xiển dương mạnh mẽ, đề cao những con
người có ḷng thương rộng lớn đối với tất cả người vật (bố
thí), tự ḿnh kiểm soát lấy ḿnh (tŕ giới), kiên tŕ
chịu đựng gian khổ, khó khăn (nhẫn nhục), năng động phấn
đấu hoàn thành mục tiêu đă định (tinh tấn), b́nh tĩnh (thiền
định) và sáng suốt (trí tuệ). Mẫu người lư tưởng của
Phật Giáo, mẫu người có ḷng thương, có kỷ luật, kiên
tŕ, năng động, b́nh tĩnh và sáng suốt, được định h́nh
và kế hoạch thể hiện mẫu người này trong cuộc sống được
vạch ra thông qua khuôn khổ các câu chuyện tiền thân của
Đức Phật, cho các Phật tử Việt Nam thời Khương Tăng Hội
và trước đó.”
Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển II, Thầy giới
thiệu một số tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội như: Cựu
Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự, An Ban Thủ Ư Kinh,
Tạp Thí Dụ Kinh và sáu lá thư, Lư Miễu, Đạo Cao và Pháp
Minh.
Ngang qua các bản dịch của Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp
Kính Kinh Tự và An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải... chúng ta
thấy nội dung là những truyện cổ tích dân gian hướng con
người trên việc hành thiện, trong nhân nghĩa thuần hậu
và ư thức tôn vinh phẩm hạnh con người nhằm xây dựng một
đời sống chân hạnh phúc trong cuộc đời này. Chính những
truyện cổ tích này đă mang một nội dung giáo pháp nhân
quả, nghiệp báo...:
“... Truyện một sự tích dưa hấu thực chất là một
thuyết giảng về giáo lư nhân quả “ở hiền gặp lành” của
Phật Giáo dân gian. Nó gồm hai đoạn. Đoạn 1 kể An Tiêm
gốc là một nô tỳ, lấy được người con gái nuôi của Vua
Hùng, ăn mặc sung sướng, của cải giàu có. Có người khen,
An Tiêm nói đó là “vật tiền thân” của An Tiêm. Vua Hùng
nổi giận, đày An Tiêm ra đảo. Đoạn 2 kể, Tiêm ở đảo, nhờ
chim đem hạt dưa hấu đến, trở nên giàu có và được gọi về...”
Và c̣n rất nhiều những cốt truyện tương tự như vậy
được tŕnh bày trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, một cách
khuyến tấn con người phải biết ăn ở hiền lành, có thảo
có ngay, sống đời đạo đức.
Về mặt Triết học kinh viện của giai tầng tri thức, của
bậc thượng căn, thượng trí chúng ta thấy trong An Ban
Thủ Ư Kinh Chú Giải lời văn khúc chiết, rành rơi, âm
hưởng trùng điệp vang ngân bất tận, khi định nghĩa về
tâm, Khương Tăng Hội đă viết:
“Tâm Chi dật đảng, vô vi bất hiệp
hoảng hốt phảng phất, xuất nhập vô gián
thị chi vô h́nh, thính chi vô thanh
nghênh chi vô tiền, tầm chi vô hậu
thâm vi diệu tế, h́nh vô ty phát
phạn thích tiên thánh, bất năng chiếu minh
mặc chủng vu thử, hóa sinh hồ bỉ
phi phàm sở đổ, vi chi ấm giả...”
Đây là bản kinh cốt lơi, làm chuẩn đích cho ai có
ḷng nghiên tầm, khảo cứu để hướng tâm trên con đường
đạo. Nhưng đồng thời cũng chú trọng đến các lănh vực như
nghệ thuật, âm nhạc, văn học, Phật Giáo, chính trị, tư
tưởng...
Qua bộ môn âm nhạc, Thầy viết:
“... Về vấn đề âm nhạc, những đóng góp của sáu lá thư
ấy lại càng đặc sắc và quư giá hơn. Quư giá, bởi v́
chúng là những văn kiện xưa nhất và duy nhất nói đến sự
hiện diện một cách không chối căi ở nước ta những “ca
tán tụng vịnh.”
Từ đó, cho thấy tối thiểu vào đầu thế kỷ thứ V, âm nhạc
Việt Nam và âm nhạc Phật Giáo Việt Nam gồm những thứ ǵ.
Đặc sắc, bởi v́ nếu phối hợp báo cáo âm nhạc vừa nói với
những h́nh ảnh nhạc cụ trên những bệ đá của nền nghệ
thuật Tiên Sơn, chúng ta có thể rút ra những kết luận
rất lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và lịch sử âm
nhạc Phật Giáo Việt Nam, đồng thời giải thích cho thấy,
tại sao trên những bệ đá ấy chúng ta chỉ có mười nhạc
thần và chín thứ nhạc cụ tấu nhạc, để ca ngợi cúng dường
người giác ngộ.”
Từ những tư liệu có được của thời gian phôi thai, thuở
ban sơ, trên ḍng lịch sử của dân tộc, qua các tác phẩm
đă xuất bản, Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát đă công bố một
cách minh nhiên và sẽ tiếp tục cống hiến những sưu khảo
nhiều hơn nữa để hoàn thành sứ mạng của một Sử gia thời
đại.
Công tŕnh khảo cứu ấy, qua Tổng Tập Văn Học Phật Giáo
Việt Nam quyển III, Thầy đă dành trọn quyển để in lại
tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh, chứng tỏ tác phẩm này đă
nói lên vai tṛ vô cùng quan trọng trên lănh vực văn học
nước nhà và c̣n mang nhiều sắc thái độc đáo của lịch sử
Phật Giáo đời Trần:
“... Thiền Uyển Tập Anh có một cống hiến thật đặc
sắc, bởi v́ nó là một tác phẩm đời Trần duy nhất c̣n
lại, chứa đựng nhiều tên ấp, tên làng, tên quận, tên phủ
và tên Châu của đời Lư cũng như đời Trần hơn bất cứ một
tác phẩm nào khác, nếu hoàn thành, có thể nói ta đă vẽ
lại được một phần bản đồ địa lư chi tiết của nước ta vào
thời Lư một cách cụ thể nhờ vào tên các ngôi chùa gắn
liền với các tên đất ấy.”
Đó là trên b́nh diện địa lư, c̣n trên lănh vực văn học,
Thiền Uyển Tập Anh đă đóng một phận vị có tầm vóc ách
yếu trên nền học thuật và thiền học ngang qua tinh thần
tu chứng của Chư vị Thiền sư Tổ đức:
“... Rơ ràng, đối với lịch sử dân tộc ta, Thiền Uyển
Tập Anh đóng một vai tṛ hết sức quan trọng và thiết
yếu. Thiếu nó, th́ cả mấy trăm năm lịch sử văn học dân
tộc phai mờ thất tán đi không phải ít.... và vai tṛ ấy,
thực tế, có một tầm quan trọng hơn nhiều, khi ta nhớ
rằng nó tự bản chất là một bộ sử chuyên môn về Phật Giáo
Thiền Tông Việt Nam. Mà Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam
vào mấy trăm năm ấy, nếu không nói là hệ tư tưởng chiếm
ưu thế trong giai đoạn lịch sử đó.”
Một Vạn Hạnh Thiền Sư đă hộ quốc an dân, xây dựng
một triều đại vàng son cho dân cho nước, mà tinh thần tu
chứng đă thể hiện qua bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Tùy vận thạnh suy hưu bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Người đọc các văn kiện lịch sử, các chứng tích văn học,
các nền văn hóa dân tộc và Phật Giáo Việt Nam qua Tổng
Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam 3 quyển sẽ thấy được sự
lịch lăm uyên bác đầy thực nghiệm của một sử gia đương
đại, chỉ thu ḿnh trong 3 quyển văn học ấy không thôi
cũng đủ để chứng minh cho chúng ta thấy đâu là tri thức
không chướng ngại, đâu là tài năng tập thành xuyên suốt
thời gian không ngằn mé, và đâu là vượt thắng mọi chướng
duyên để kiện toàn nguồn tư tưởng hăn hữu.
Qua bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, bằng cái nh́n tổng
thể của một sử gia, Thầy đă phân chia các chặng đường
lịch sử không giống các nhà nghiên cứu khác. Trước tiên
bằng nhận định xác thực thế nào là lịch sử? Và cấu trúc
lịch sử được vận hành như thế nào qua mỗi thời đại, qua
từng lớp người của bối cảnh lịch sử đó:
“... Đối với chúng tôi, lịch sử là một vận động có ư
thức của con người. Riêng đối với các tư trào văn hóa
như Phật Giáo th́ lịch sử như một cuộc vận động có ư
thức lại càng rơ nét hơn. Lịch sử vận động trên căn bản
tương tác của nhiều cấu trúc khác nhau. Có cấu trúc hạ
tầng, có cấu trúc thượng tầng và những cấu trúc hàng
ngang, hàng dọc đan xen lẫn nhau, trong đó cấu trúc hạ
tầng tất nhiên giữ vai tṛ chủ chốt, nhưng không phải là
tuyệt đối. Xuất phát từ một cái nh́n như thế, quan điểm
của chúng tôi là nh́n lịch sử Phật Giáo như một bộ phận
của cuộc vận động chung của dân tộc.”
Từ nhận định và lập trường trên, Thầy đă chia ḍng
lịch sử Phật Giáo Việt Nam 2000 năm thành 5 thời kỳ:
“Đó là thời kỳ Phật Giáo quyền năng, thời kỳ Phật
Giáo vận động độc lập, thời kỳ Phật Giáo thế sự, thời kỳ
Phật Giáo cư trần lạc đạo và thời kỳ Phật Giáo quần
chúng... Mỗi thời kỳ này có một nét đặc trưng nổi bật
của nó, mà ngay cả sự đổi thay của các triều đại và sự
tồn tại những ḍng Thiền khác nhau không có một ảnh
hưởng to lớn nào. Lịch sử tuy là một vận động có ư thức
của con người, nhưng đồng thời cũng có quy luật của nó.
Mà đă nói đến quy luật tức là nói đến tính tất yếu, mà
mỗi ư chí của cá nhân không thể cưỡng lại được.”
Đọc qua lịch sử Phật Giáo Việt Nam 3 tập dày khoảng
2500 trang, chúng ta thấy hệ thống tư liệu từng niên
đại, từng nhân vật, từng cốt truyện được thẩm định rơ
nét, chính xác để định vị trí chứng nhân của ḍng lịch
sử. Điều này chúng ta thấy trong phần Pháp Thuận và bài
thơ Thần Nước Nam Sông Núi. Từ trước đến giờ theo tính
truyền khẩu được luân lưu qua từng thế hệ, chúng ta cho
rằng bài thơ Thần Nước Nam là của Lư Thường Kiệt trong
cuộc chiến chống ngoại xâm năm 1076. Nhưng qua các tư
liệu chứng minh thời bấy giờ, bài thơ Thần Nước Nam đó
được coi là hiện hữu dưới thời Vua Lê Đại hành, trong
cuộc chiến tranh năm 981:
Bài thơ
Thần Sông Núi
1. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên dĩ định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.
2. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
3. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư
Như Kim Bắc lỗ lai xâm phạm
Hội kiến hải trần tận tảo trừ.
4. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư
Như Hà Bắc lỗ cảm xâm phạm
Hội kiến phong trần tận tảo trừ.
Qua các luận cứ được thẩm định, để thấy được bài thơ
Thần phát xuất từ đâu:
“... Theo chúng tôi, ta nên trả bài thơ Thần trên về
cho cuộc chiến tranh 981 và chúng ta có đủ dữ kiện để
làm như thế. Đây không phải là một kết luận mới. Hai bộ
sử viết bằng tiếng Việt vào thế kỷ thứ 16 và 17, là Việt
Sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục đều thống nhất có cùng
một kết luận. Việt Sử Diễn Âm đă dành một đoạn dài nói
về lai lịch của bài thơ này.”
Đến đây, chúng ta thấy Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài
là một tác phẩm sưu khảo và tác biên về cuộc đời và sự
nghiệp của Toàn Nhật. Một cách sơ lược về sự nghiệp văn
học chúng ta thấy trong phần Tam Giáo Nguyên Lưu Kư,
Viên Quang Tự Sa Môn Toàn Nhật Pháp hiệu Quang Đài, Ngài
đă thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên qua những vần
thơ song thất lục bát:
“Thuở trời Xuân say nhuần mầu đạo
Trót nom theo Tam giáo chân tôn
Am mây gởi dấu thong dong
Tu thân ngày tháng sửa ḷng hôm mai
Trải xưa định vị tam tài
Là trời, người, đất muôn loài nổi sinh.”
Qua phần Tống Vương truyện đă thể hiện một nhân sinh
quan vô cùng an nhiên tích cực, cho thấy Toàn Nhật là
một trong những nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng lớn của
dân tộc Việt.
Tống Vương truyện đă dệt nên một truyện t́nh thơ mộng
của một Thái tử, con vua, với người con gái mộc mạc làng
chài lưới miền sông nước:
“... Long phi vân hán,
Phụng nhiễu quang minh
Ứng trinh tường xảy gặp điềm lành
Vừng đẩu tú trổ sanh thụy lạ
Có người Giang hạ
Tánh thật ngư ông
Việc vơng la lưới tổ (chài) tôm
Nghề hà hải Giang Tân Sở trú
Kết duyên phu phụ
Hiệp bạn Châu Trần
Vô nam nhi kế tự tôn thân
Sinh nữ tử nối ḍng tổ phụ...”
Và cuối cùng cái hậu của cốt truyện là Vua cha đi
tu, giao ngôi Vua lại cho con:
“... Vua đà cao kỷ
Tác lớn trên đầu
Nhượng vị cho con
Sửa sang chính sự
.........
Hồi đầu Phật Tổ
Thế phát tu hành
Con nối ngôi truyền dơi đạo thanh
Muôn đời để lưu danh thiên hạ.”
Những vần thơ ấy đă đề cao tinh thần dân chủ, tôn
trọng tinh thần b́nh đẳng giữa loài người, không phân
biệt giai cấp, ngôi vị. Giá trị ở đây là tư cách đạo đức
nhân luân là nền tảng nhân bản được xây dựng trong tâm
tư của mỗi con người. Dù người đó có địa vị, quyền cao,
tước trọng nơi triều đ́nh, hay lớp người dân giả b́nh dị
vẫn được tôn trọng trong ư niệm hướng thượng. Từ đó,
chúng ta thấy Lục Tổ Truyện Diễn Ca, Toàn Nhật đă hướng
dẫn con người trên đường t́m cầu Chân lư và cuối cùng
thành đạt đạo quả giác ngộ. Đó là h́nh ảnh của Lục Tổ
Huệ Năng, Người mang đá giă gạo suốt bao năm tháng,
nhưng ư vị giác ngộ vẫn miên viễn trường tồn:
“... Đêm ngày chuyên niệm Di Đà
Chịu phần giă gạo vậy ḥa tám thu
Bảo làm cho thấy công phu
Vai mang khối đá chuyên tu đến ngày
Phật Tổ khổ hạnh lắm thay
Sáu năm tuyết lănh mới thành Kim thân.”
Đó là giá trị của sự tu tập, mà bằng cái nh́n của
Toàn Nhật lao tác là một thể thức của Thiền định - gánh
nước, bửa củi, giă gạo. Từ tự tướng của chân tay đă thể
hiện được tánh giác ngộ, trong sáng nơi tâm thanh tịnh
thuần khiết của Phật tánh thường hằng như nhiên bất
động”
“... Ca Sa b́nh bát pháp thiền
Bèn trao phú chúc về miền Thiền Châu
Dặn ḍ y chánh trước sau
Mấy lời Phật Tổ thẳm cao nhiệm mầu
Huệ Năng lễ tạ khấu đầu
Lạy từ Ḥa thượng sẽ hầu lui ra.”
Bước sang Toàn Tập Minh Châu Hương Hải được sưu khảo và
tác thành qua những tư liệu có được. Thiền Sư là một nhà
Văn hóa, Triết gia, Tư tưởng gia của Phật Giáo và dân
tộc Việt Nam. Qua tác phẩm này, chúng ta thấy công tŕnh
văn học đồ sộ đă được lưu lại qua các tác dịch phẩm,
hoặc chú giải như: Giải Kim Cương Kinh Lư Nghĩa, Giải Di
Đà Kinh Sớ Sao, Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ, Sự Lư Dung Thông,
Giải Pháp Hoa Kinh, Giải Sa Di Giới Luật, Soạn Quán Vô
Lượng Thọ Kinh Quốc Ngữ... tất cả trên 20 tác phẩm, gồm
30 quyển.
Là một nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 17, Thiền Sư đă xây
dựng một ngữ pháp để giải và dịch Kinh mới mẻ nhất, mà
không theo lối cổ dịch của những thế kỷ 15, 16. Lối dịch
này được diễn tả, giải thích Kinh Văn phóng khoáng theo
cái nh́n và sự hiểu biết của ḿnh mà không dịch sát chữ,
sát nghĩa, cựu dịch. Do cách dịch thuật sáng tạo này mà
Thiền Sư đă thật sự đóng góp một gia tài văn học đồ sộ
cho nền lịch sử văn học tiếng Việt. Một thí dụ điển h́nh
qua lối dịch giải đó nơi bài Kệ Kinh Kim Cương:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điển
Ứng tác như thị quán.
“Hết thảy pháp hữu vi là trên tự thiên địa tạo hóa,
dưới đến nhân gian vạn vật, dầu sanh lăo bệnh tử, giàu
có sang hèn, sĩ nông công thương, mọi loài sắc vật, dầu
nhẫn xanh vàng thâm trắng thô tế thanh trọc, dầu có dầu
không, dầu hư dầu thiệt, sâu cạn, thấp cao, ách thật
vọng tâm khởi diệt. Hết thảy thiện ác muôn pháp cũng là
hữu vi vậy...”
Tóm lại Toàn tập Minh Châu Hương Hải là một công tŕnh
to lớn trong chốn Thiền gia và nhân gian, là một nền văn
học, tư tưởng vô giá cho thế hệ hậu sinh, để có cái
nh́n, suy tư chín chắn trên diễn đàn văn học của Chư vị
Lịch Đại Tổ Sư c̣n lưu truyền đến ngày hôm nay và ngàn
sau.
Bằng thực chứng giá trị bề dày lịch sử văn học tư tưởng
Phật Giáo và dân tộc Việt Nam xuyên suốt qua tác phẩm
Toàn Tập Trần Nhân Tông, một tác phẩm toàn bích, trên
hai phạm trù thế gian và xuất thế gian của kẻ sỹ.
Nói đến Vua Trần Nhân Tông là nói đến bậc xuất trần vi
thượng sỹ. Nói đến bị Bồ Tát hóa thân vào đời, ḥa quang
đồng trần để độ sinh. Nhà Vua đă đem tài danh thật đức
của ḿnh để an bang tế thế, xây dựng nước nhà thanh b́nh
thạnh trị. Dân tộc được ấm no, quốc gia phú cường để từ
đó thăng hoa trong cuộc sống tâm linh là chuyển mê khai
ngộ, đổi phàm thành thánh.
Toàn Tập Trần Nhân Tông đă phô bày một cách thật rơ nét
qua Vương vị và Thánh vị của nhà Vua. Là Vương vị, nhà
Vua là anh hùng dân tộc đă viết nên ḍng sử oai hùng bảo
vệ giang sơn gấm vóc, quét sạch ngoại xâm ra khỏi bờ
cơi, xây dựng một nền ḥa b́nh chân chính cho dân cho
nước. Công cuộc bảo vệ giang sơn này, qua chương III và
IV, Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh bảo vệ quốc
gia dân tộc năm 1285, 1288 qua các trận Nội Bàng, Vạn
Kiếp, B́nh Than, Thăng Long, Hàm Tử, Chương Dương, Như
Nguyệt... chúng ta ngưỡng mộ tài thao lược, anh hùng túc
trí của nhà vua hy sinh v́ dân v́ nước. Là Thánh vị nhà
Vua đă bỏ ngai vàng điện ngọc để đi tu và thành Tổ Đức.
Nhà Vua là Sơ Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm, một ḍng Thiền
thực thụ của Phật Giáo Việt Nam. Nhà Vua đă đề ra tư
tưởng Cư Trần Lạc Đạo và được coi là cốt lơi, yếu chỉ
ḍng Thiền:
“Trần tục mà nên, phú ấy càng yêu hết sức,
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá đồ công.”
Hay là:
“Sạch giới ḷng, dồi giới tướng,
Nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.
Ngay thờ Chúa, thảo thờ Cha,
Đi đổ mới trượng phu trung hiếu.”
Và cuối cùng là Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt
Nam gồm 2 tập. Đây là một công tŕnh khảo cứu tập thể
của quư Thầy học tăng trong các Phật Học Viện Hải Đức
Nha Trang, Quảng Hương Già Lam. Nhưng phần chủ biên và
hoàn thành Từ Điển vẫn là công tŕnh của Thượng Tọa Tuệ
Sỹ và Sử Gia Lê Mạnh Thát đồng tác giá.
Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam được có mặt ngày
hôm nay, dù rằng chỉ có được 2 tập là A Tập I, từ A đến
A Di Đà và A Tập II, từ A Di Đà đến A Di Đà Tự, chưa
hoàn tất toàn bộ Từ Điển Phật Học. Nhưng, rơ thật là một
sự nỗ lực vượt bậc để cống hiến cho sự t́m hiểu tra cứu
về từ ngữ Phật pháp và cũng nói lên tâm nguyện chí thành
của Chư vị Tôn Túc có cái nh́n sâu xa, suốt chặng đường
lịch sử văn học Phật Giáo hiện đại.
Bằng việc làm của đàn hậu duệ, bằng khả năng sơ lậu của
người học tṛ mang khai, giới thiệu các tác phẩm của
Thầy, Sử gia Lê Mạnh Thát, chúng tôi có cảm tưởng như
làm công việc vốc muối bỏ biển, đội đá vá trời. Tuy
nhiên khi nghĩ đến công ơn của bậc giáo thọ sư tài bồi
huấn dục qua bao năm tháng, nên mạo muội tự nhủ ḿnh
trải tấm ḷng thành, ngơ hầu có chút phần nào nghĩ về
Thầy trong muôn một. Do vậy, nên chỉ có đôi lời b́nh dị
để nói lên công tŕnh khảo cứu ngàn đời của ḍng lịch sử
văn học nước nhà mà Thầy là một sử gia trác việt anh
tài, đă cấu trúc thành những chuỗi chứng tích, tư liệu
ḍng lịch sử đó. Trước khung trời kiến văn quảng bác,
trí tuệ siêu nhiên của Thầy và những kho tư liệu vô giá
của lịch sử văn hóa, chỉ biết ḿnh đang là kẻ ḍ dẫm lần
bước. Ngưỡng mong Thầy từ bi lượng thứ.
Kính mong Chư Tôn Đức, Chư vị thức giả cao minh, rộng
ḷng cảm thông, hỷ xả cho những điều thất thố.